Bây giờ khí nhạc ai nghe? (Thứ Tư 21/03/2018 | 10:43 GMT+7)

VH- Khí nhạc Việt Nam ngay thuở trứng nước trong thời buổi chiến tranh đã làm nên kỳ tích, như cậu bé làng Gióng gặp lúc gian nguy biết vươn mình lớn dậy. Nếu tính từ những tác phẩm giao hưởng một chương chào đời vào những năm 60 thế kỷ trước, thì “cậu bé Phù Đổng” ấy nay đã xấp xỉ tuổi ngũ thập.

 Dù các nhạc sĩ ta không ngừng viết nhạc giao hưởng thính phòng nhưng loanh quanh vẫn chỉ vài tác phẩm VN lọt vào danh mục biểu diễn Ảnh minh họa

So với một đời người, thế cũng đủ chín để “tri thiên mệnh”, để hiểu người biết ta, nhưng so với truyền thống gần ba trăm năm của bậc “đại lão” giao hưởng châu Âu thì khí nhạc ở ta vẫn là trẻ thơ: hồn nhiên, bồng bột, không có người nghe, thiếu “bà đỡ”…

 Đoạt giải thưởng lần lượt vào tủ lưu trữ...

Đa số tác phẩm khí nhạc được tài trợ hoặc đoạt giải thưởng của Hội Nhạc sĩ Việt Nam hằng năm vẫn theo nhau chui vào tủ lưu trữ của Hội, không xuất bản, không dàn dựng, không mấy ai tới hỏi mượn. Dàn nhạc Giao hưởng quốc gia ở ta đang được đánh giá “tầm cỡ khu vực” nhưng chưa tận dụng “nội lực” đó cho nhạc nội địa. Dù các nhạc sĩ ta không ngừng viết nhạc giao hưởng thính phòng, dù các dàn nhạc ta đều mong muốn quảng bá cho đội nhà, nhưng loanh quanh vẫn chỉ vài tác phẩm VN lọt vào danh mục biểu diễn, vì ngoài những chương trình kỷ niệm lễ lạt ra mà cứ tiếp thị sản phẩm “cây nhà lá vườn” thì cầm chắc đại lỗ về doanh thu.

Sự phổ cập, dẫn giải tác phẩm nhạc đàn vừa mang tính nhà nghề vừa có sức hấp dẫn đông đảo công chúng không được đặt ra thành mục tiêu. Vai trò “cầu nối” giữa tác phẩm với người nghe mặc nhiên thuộc đặc quyền của những cây bút không chuyên ngành lý luận âm nhạc, và muốn hiểu tác phẩm không lời nói gì, công chúng chỉ biết nhờ cậy những tay “thông ngôn” chưa chắc đã thông tỏ ngôn ngữ khí nhạc.

Công chúng hoàn toàn không có thói quen và nhu cầu thưởng thức nhạc giao hưởng thính phòng. Đấy là hậu quả đương nhiên của nhiều năm chỉ chú trọng đào tạo người viết và người diễn mà quên “đào tạo” người nghe. Khả năng tưởng tượng khi nghe nhạc không lời vốn rất lớn ở trẻ nhỏ, nhưng không được khơi gợi nuôi dưỡng nên cứ teo đi rồi mất dần theo tuổi thơ. Giới trẻ (chiếm số đông trong công chúng nghe nhạc) nói chung ngày càng dị ứng với cái gọi là nhạc hàn lâm, nhạc bác học. Giới trí thức biết nghe giao hưởng kinh điển thế giới (chiếm phần nhỏ nhoi so với công chúng) vẫn gần như không biết đến tên tuổi tác giả Việt Nam và tác phẩm khí nhạc Việt Nam.

Loay hoay tìm chỗ đứng...

Thiếu hỗ trợ từ bên ngoài, không ít nhà soạn nhạc vẫn say sưa mài bút trên tổng phổ. Song thiếu tinh thần động viên lẫn nhau trong nghề quả là mất đi một sự khích lệ không nhỏ. Lực lượng nhạc sĩ viết ca khúc đông hơn, được công chúng biết tiếng hơn các nhà soạn nhạc không lời. Có phải nhờ thế nên có những “ca khúc gia” cảm thấy tự tin hơn và cứ rập rình muốn đẩy mấy ông khí nhạc đi chỗ khác chơi, đi mà lập ra hội khác để “viết giao hưởng cho nhau nghe”? Giữa “giới hàn lâm” với nhau cũng thiếu một không gian nghề nghiệp để nghe nhau và trao đổi trực tiếp. Nhận xét sau lưng thường nặng về chê bôi khó gây được hiệu quả mong muốn. Dễ mang tiếng quá “đát”, già cỗi nếu cứ trung thành với bài bản tiếp nhận từ các trường phái châu Âu của các thế kỷ trước, nhất là trường phái Nga - Xô viết. Dễ bị chỉ trích ít học, chỉ biết làm ba cái thứ lăng nhăng không giống âm nhạc nếu cố tân tiến theo xu hướng đương đại.

Mù mờ phân biệt vàng thau...

Các cụ xưa đã nói: “Con hơn cha là nhà có phúc”. Một nền khí nhạc có phúc là thấy được cảnh con cháu đề huề và sự đầu tư dư dả cho thế hệ nối dòng nối dõi, thấy được sự sẻ chia và tôn trọng cả kinh nghiệm của lớp “cha truyền” cùng những bứt phá của lớp “con nối”. Nhạc sĩ được đào tạo bài bản từ các nhạc viện ngày càng đông mà đội ngũ trẻ viết khí nhạc lại mỏng tang là do đâu, có sự bất cập giữa giáo trình đào tạo với yêu cầu xã hội, hay tình trạng ế ẩm khí nhạc khiến các nhà khí nhạc tương lai không đủ can đảm hành nghề đã học?

Số nhạc sĩ trẻ còn giữ được niềm đam mê khí nhạc chỉ đếm trên đầu ngón tay và họ gần như phải chấp nhận thế đơn độc trong cuộc dấn thân này.

Ở thời đại công nghệ thông tin toàn cầu mà vẫn tồn tại một khoảng cách không gian và thời gian khó vượt qua giữa giới nhạc chuyên nghiệp trong nước và quốc tế. Khác với các nhạc sĩ trẻ thuộc lĩnh vực ca khúc giải trí phổ thông, không phải nhà soạn nhạc nào cũng có điều kiện bước chân vào thế giới phẳng và coi việc truy cập internet như nhu cầu cơm bữa để kịp thời nắm bắt tình hình khí nhạc chuyên nghiệp thế giới hiện ra sao, đi tới đâu. Càng ít người có điều kiện mắt thấy tai nghe tác phẩm âm nhạc đương đại và các xu hướng thể nghiệm trên thế giới, mà âm nhạc là nghệ thuật phải được vang lên, chứ không thể chỉ diễn tả bằng thông tin chữ nghĩa. Nhạc sĩ trẻ có dịp tham dự liên hoan quốc tế thì cũng chỉ một mình mình biết, một mình mình hay. Thông tin bên ngoài hạn chế, thông tin giữa ta với ta cũng không kém mù mờ. Bác này vừa hoàn thành giao hưởng hợp xướng, chú nọ đã viết xong tác phẩm thính phòng, toàn là nghe nói vậy thôi, dù tác giả chỉ mong sớm giới thiệu tác phẩm mới cho đồng nghiệp mà chẳng biết bằng cách nào.

Những thiếu hụt trong lĩnh vực khí nhạc không chỉ là chuyện riêng của người viết khí nhạc. Việc điều chỉnh cho bức tranh khí nhạc ngày mai bớt đi sắc màu ảm đạm của hôm nay còn tùy thuộc vào nhiều mắt xích, từ cách nhìn thoáng hơn, mở hơn của người trong cuộc cũng như tất cả những người liên quan, đến sự hợp lực đồng bộ của nhiều cơ quan nhà nước, trong đó có các tổ chức nghề nghiệp. Một tổ chức nghề nghiệp mang tính xã hội cao với số thành viên lớn như Hội Nhạc sĩ VN phải là nơi trước tiên và thường xuyên có những tác động cụ thể và thiết thực cho sự sống còn của khí nhạc chuyên nghiệp. 

 ​ Trong giới nhạc với nhau, những anh tỉnh vẫn thường lấy làm ái ngại cho những anh say (say nghề!): “Ôi dào, viết làm gì, ai dựng, ai nghe?”. Người chuyên viết khí nhạc mà chẳng viết bài hát nào thì không được công chúng coi là nhạc sĩ. Còn người chỉ viết giai điệu ca khúc quần chúng không phần đệm thì lại không được “dân nhạc viện” coi là nhạc sĩ với đúng nghĩa của từ này. Có phải vì sự khác biệt đó mà khó có được mối đồng cảm giữa những người anh em sáng tác?

Nhà phê bình NGUYỄN THỊ MINH CHÂU

 

 

Print
Tags: